xá lợi lưỡi đang được nhiều người tìm kiếm. Starwarsvn.com là blog cá nhân sưu tầm và chia sẻ thông tin hữu ích mà mọi người đang quan tậm hiện nay. Starwarsvn.com gửi tới các bạn bài viết Xá lợi lưỡi – Tất tần tật thông tin về Xá lợi lưỡi. Hi vọng các bạn nhận được thông tin hữu ích trong bài viết này!

Một ngày sau lễ hỏa táng, ngày 12 tháng 11 năm 2019, khi nắp lò hỏa táng được mở ra, toàn bộ gỗ của quan tài đựng thi hài của Thầy Trí Quang đã thành tro, toàn bộ xương to và cứng như xương sườn, xương tay, xương chân, đã trở thành những mảnh xương rất nhỏ, bị gãy.

 >> Chân dung nhân ái Một ngày sau lễ hỏa táng, ngày 12/11/2019, khi nắp lò hỏa táng được mở ra, toàn bộ gỗ của quan tài đựng thi hài của Thầy Trí Quang đã trở thành tro tàn, tất cả xương cốt đều lớn và cứng như xương sườn, xương tay, xương chân, đã trở thành những mảnh xương rất nhỏ, bị gãy.

Rất bất ngờ khi thấy toàn bộ xương đầu của Đại sư Trí Quang, còn được gọi là “Thánh tích đỉnh” hay “thánh tích xương đỉnh” vẫn còn nguyên vẹn với màu trắng tinh khiết nổi bật và trở thành tâm điểm quan trọng. tấm lòng của đông đảo Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước. Xá lợi của Ngài được chia làm 3 phần cho 3 ngôi đền thờ: (i) Chùa Đại Giác, đường Lê Lợi, phường Hải Đình, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, (ii) Chùa Từ Đàm, số 1 đường Liễu Quán, phường Trường An, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế và (iii) Thiền viện Quảng Hương Già Lam, 498/11 Lê Quang Định, Phường 01, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh (nơi ông đã dành khoảng 15 năm thực hành và hiệu đính các bản dịch & bình luận của mình).

Tôi rất tiếc chùa Ấn Quang, nơi Đại sư Trí Quang đã tu hành mấy chục năm nay. Có lẽ đó là ngôi chùa mà ông gắn bó cuộc đời mình nhiều nhất, lâu nhất và những tác phẩm do ông dịch và chú giải đều ra đời tại chùa Ấn Quang, nhưng lại không có trong danh sách được rước xá lợi của ông. để tưởng nhớ và tôn thờ. Giá như Ban tang lễ và các luật gia dâng một phần xá lợi cho chùa Ấn Quang thì đã hợp đạo lý hơn. Xá lợi (P = S. Śarīra) thường được phiên âm bằng nhiều từ khác nhau, những từ phổ biến nhất là xá lợi hoặc thực lợi (實 利), tit-loi-la (設 利羅), lo-lu (室 利)… Sarīra cũng có nghĩa là thi hài cho người vừa mất hoặc hài cốt sau lễ hỏa táng.

Khi lò hỏa táng được mở ra, “xá lợi” của Sư Trí Quang như một khối ngọc trắng giữa đống tro tàn. Phần xương còn lại đã bị cháy và xỉn màu. Đối với những người, những hội đoàn, đoàn thể theo Việt Nam Cộng Hòa, hoặc chống lại Phật Giáo, thiếu thiện cảm với Phật Giáo, và muốn phục hưng tinh thần Ngô Đình Diệm, họ đã nhân cơ hội này để đưa ra huyền thoại rằng người đứng đầu là xương. Phần cứng nhất của cơ thể, vì vậy xương sọ còn lại là bình thường. Trên thực tế, sau khi bị đốt 24 giờ, tất cả các xương cứng đều trở thành mảnh vỡ, xương đầu tuy cứng nhưng không cứng hơn xương đùi mà còn nguyên vẹn. Chưa kể gỗ quan tài cháy sập không vỡ xương đầu ông. Nó quý hiếm và đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của Phật giáo.

Những ai muốn vực dậy tinh thần độc tài Ngô Đình Diệm trong dịp này thường dùng hình ảnh đầu lâu để nói về cái chết, sợ xuyên tạc, làm mất đi giá trị đóng góp của Thầy Trí Quang trong cuộc khủng hoảng của Pháp. Đạo Phật 1963, cũng như di sản của Ngài trong việc dịch kinh và hướng dẫn Tăng Ni tu học.

Những kẻ muốn vực dậy tinh thần Ngô Đình Diệm đã cố tình ngụy tạo, ngụy biện nhằm làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của Việt Nam lần đầu tiên có “di vật xương đầu”.

Đối với hàng ngàn người Việt Nam vô tội và hàng ngàn người Campuchia phải hứng chịu chế độ diệt chủng của Khmer Đỏ, các nạn nhân đã để lại xương đầu, bàn tay, bàn chân, xương sườn vì tất cả những mảnh xương này đều không qua lửa. đã bị đốt cháy, nên việc để lại nhiều xương châu là chuyện bình thường. Về phần thi thể của Đại sư, sau khi đã qua 24 giờ trà mà xương đầu vẫn còn nguyên vẹn là một điều vô cùng đặc biệt.

Xá lợi (P = S. Śarīra) thường được phiên âm bằng nhiều từ khác nhau, những từ phổ biến nhất là xá lợi hoặc thực lợi (實 利), tit-loi-la (設 利羅), lo-lu (室 利)… Sarīra cũng có nghĩa là thi hài cho người vừa mất hoặc hài cốt sau lễ hỏa táng. “Thánh tích” của Đại sư Trí Quang giống như một khối ngọc trắng giữa đống tro tàn. Phần xương còn lại đã bị cháy và xỉn màu.

Đối với Đức Phật, sau khi làm lễ hỏa táng, hài cốt của Ngài được gọi là “Xương Phật” hay “Xá lợi Phật”, được chia thành 8 phần để trao cho 8 vị vua là đệ tử của Đức Phật. Đức Phật đã xây dựng một tháp đá để thờ cúng tại đất nước của họ. Vào thời Đức Phật, Ấn Độ là một liên bang gồm 16 tiểu bang. Tính đến thời điểm hiện tại (2019), các nhà khảo cổ mới khai quật được 3/8 ngôi tháp thờ xá lợi Phật thật. Xá lợi Phật không tỳ vết bằng các loại đá quý như mani, onyx, ngọc trai, hổ phách, lapis lazuli như các đoàn Phật tử Tây Tạng và Việt Nam đã trưng bày, triển lãm từ mấy chục năm nay. bởi. Trên thực tế, xá lợi thật không có màu ngọc bích. Xá lợi thật trải qua xét nghiệm ADN để xác định di truyền của Phật Thích Ca và trải qua xét nghiệm C14 để đo niên đại tương thích với Phật Thích Ca.

Còn những di vật được cộng đồng Phật giáo thế giới trong đó có Việt Nam và Tây Tạng trưng bày trong thời gian qua, tạm gọi là “thánh tích đức tin”, chứ không phải là thánh tích thật. Đó là những viên đá màu mà người dân đã đóng giả thành xá lợi của Đức Phật với mục đích huy động tài chính cho các hoạt động Phật sự. Điều đó không được khuyến khích vì nó đi ngược lại bản chất của sự thật lịch sử. Để làm công tác Phật sự, chúng tôi có nhiều cách vận động, không nên đem những viên đá màu giả làm xá lợi Phật thật.

Trong Kinh A-hàm, quyển 4, Du ký; Bồ tát trị thai (Kinh A-hàm, tập 3, phẩm Thường thường, Vô thường); Kinh Pháp Hoa, chương Devadatta, đề cập đến hai loại xá lợi, gồm xá lợi thân và xá lợi thân. 24 giờ sau khi đốt, toàn bộ xương cứng thành từng mảnh, xương đầu tuy cứng nhưng không cứng hơn xương đùi mà còn nguyên vẹn. Chưa kể gỗ quan tài cháy sập không vỡ xương đầu ông. Nó quý hiếm và đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của Phật giáo.

Về phần xá lợi toàn thân, sau khi qua đời, một số nhà sư Phật giáo mặc dù không trải qua nghệ thuật ướp xác nào như trường hợp của các pharaoh ở Ai Cập, nhưng thi hài của họ có thể tồn tại từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

Ở Trung Quốc có xá lợi toàn thân của Lục tổ Huệ Năng, đại sư Hàm Sơn… Ở Việt Nam có xá lợi toàn thân của thiền sư Vũ Khắc Minh, thiền sư Vũ Khắc Trường, thiền sư Trương Che và thiền sư. Thầy Như Trí. Ít nhất cho đến nay, cộng đồng người Việt trong cả nước có 4 viên xá lợi toàn thân của bốn vị thiền sư.

Tại Thái Lan, cộng đồng người Việt có di tích toàn thân của Thiền sư Bảo Soái, người có công phát triển cộng đồng Phật giáo Việt Nam tại xứ sở chùa vàng, lập nên Tông An Nam mà các nhà sư hiện ở Thái Lan kế thừa. An Nam Tông giữ lấy truyền thống Phật giáo Việt Nam, mặc y phục truyền thống của Phật giáo Việt Nam, truyền bá tinh thần Hán Việt của Phật giáo Việt Nam, sống theo thuần phong mỹ tục của Phật giáo Việt Nam. Khi thiền sư Bảo Soái viên tịch đã để lại xá lợi toàn thân, đây là một hiện tượng rất quý và lạ của cộng đồng Phật tử Việt Nam trong nước. Về “xá lợi toàn thân”, Phật giáo Việt Nam đã phá kỷ lục thế giới là quốc gia có nhiều xá lợi toàn thân nhất (trong đó có 5 thân thể bằng xương bằng thịt).Ở Trung Quốc có xá lợi toàn thân của Lục tổ Huệ Năng, đại sư Hàm Sơn… Ở Việt Nam có xá lợi toàn thân của thiền sư Vũ Khắc Minh, thiền sư Vũ Khắc Trường, thiền sư Trương Chế và Thiền sư Vũ Khắc Trường. Thiền sư Như Trí.

Về xá lợi từng phần (xử lý xá lợi): Những xá lợi này là kết quả của quá trình hỏa táng hoặc trong vòng 8 – 24 giờ bằng các lò đốt củi, hay các lò đồ đệ. Tất cả những mảnh xương còn lại sau khi lễ hỏa táng kết thúc được gọi là mảnh xác di vật. Sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu, phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm có luật pháp hà khắc, kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật giáo, sau lễ hỏa táng đầu tiên tại ngã tư Phan Đình Phùng và Phan Đình Phùng. Lê Văn Duyệt (nay là CMT8 và Nguyễn Đình Chiểu) và thiêu lần thứ hai tại lò hỏa táng với nhiệt độ 4.000 độ C vẫn giữ được “xá lị trái tim” là một dấu ấn gây chấn động Phật giáo Việt Nam và trên toàn thế giới. Hiện tại,“Trái tim bất tử” của Bồ tát Quảng Đức (tâm từ bi) được tôn trí tại Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, được bảo vệ rất cẩn thận.

Có thể bạn quan tâm:  Wrecking ball là gì - Tất tần tật thông tin về wrecking ball

Tại Trung Quốc, Đại sư Kumarajiva, người có công trong việc dịch các kinh điển Phật giáo Đại thừa từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc, đã để lại “xá lợi lưỡi”. Sư phụ thề rằng nếu công việc dịch kinh sang tiếng Trung Hoa của tôi đúng với những gì Đức Phật đã dạy, thì hãy để lại một cái gì đó làm bằng chứng cho những điều này. Lưỡi là cơ quan phát âm để tạo ra ngôn ngữ, và tinh hoa của ngôn ngữ là chân lý (nói như chân lý). Do đó, di vật của lưỡi đại sư Kumarajiva đại diện cho bản dịch kinh điển của ông một cách trung thực và chính xác với những lời dạy của Đức Phật.Sau khi đốt, tùy theo hình dáng và các bộ phận còn lại mà ý nghĩa biểu tượng và giá trị của thông điệp tạo nên rất nhiều sự kính trọng, như trường hợp xá lợi lưỡi của Đại sư Kumarajiva và xá lợi Trái tim của Bồ tát Thích Quảng Đức.

Tương tự như vậy, Bồ tát Thích Quảng Đức, vì lòng đại bi, thấy Phật giáo bị đàn áp, tăng ni bị đàn áp, Phật tử bị chính quyền Ngô Đình Diệm giết hại, và Phật giáo có thể bị xóa sổ khỏi đất nước. bản đồ văn hóa – tôn giáo – chính trị Việt Nam nên anh đã tự nguyện tự thiêu và để lại “trái tim bất tử”. Trái tim đó được gọi là “trái tim nhân ái”.

Như vậy, sau khi thiêu hủy xá lợi, tùy theo hình dáng và các bộ phận còn lại, ý nghĩa biểu tượng và giá trị của thông điệp tạo nên nhiều sự tôn kính như trường hợp xá lợi lưỡi của Đại sư Kumara. – Thánh giá và trái tim của Bồ tát Thích Quảng Đức.

Trong trường hợp của Đại Sư Trí Quang, chúng ta thấy “di tích đầu”, là nơi não bộ hoạt động. Khi nói ai đó có “cái đầu thông minh”, “cái đầu trí tuệ”, “cái đầu sáng suốt”, chúng ta đều lấy cái đầu làm biểu tượng để nói đến. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà do thiếu lửa hoặc lửa đốt chưa đủ nóng mà xương của Sư trưởng Trí Quang vẫn còn, trong khi tất cả các xương cứng khác trở nên nát và nhũn.

Thầy Trí Quang là linh hồn, chủ chốt, nhân vật quan trọng nhất của phong trào Phật giáo năm 1963, với phương pháp đấu tranh bất bạo động, thức tỉnh chính quyền Công giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Giám mục Ngô Đình Thục về việc đàn áp Phật giáo, vi phạm pháp luật tại thời gian đó, dẫn đến sự đau khổ của cộng đồng Phật giáo miền Nam Việt Nam. Thầy Trí Quang là đạo diễn chính để lại “thánh tích đầu” và Bồ tát Thích Quảng Đức là đạo diễn xuất sắc nhất để lại “thánh tích trái tim”. Bồ tát Quảng Đức để lại trái tim từ bi và bất tử, còn Bồ tát Trí Quang để lại xá lợi đầu, tượng trưng cho trí tuệ.Thầy Trí Quang là linh hồn, chủ chốt, nhân vật quan trọng nhất của phong trào Phật giáo năm 1963, với phương pháp đấu tranh bất bạo động, đánh thức chính quyền Công giáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Giám mục Ngô Đình Thục về việc đàn áp Phật giáo…

Trí tuệ và lòng từ bi được coi là hai giá trị cốt lõi, quan trọng nhất đối với việc tu tập và hành đạo của người Phật tử. Trí tuệ là tinh hoa, trí tuệ là mẹ của chư Phật, tức là toàn giác. Trí tuệ được mô tả trong kinh điển Pali là “ngọn đuốc soi sáng thế gian” và trong kinh điển Đại thừa, trí tuệ được coi là sự nghiệp quan trọng nhất của mỗi con người (nghiệp tuệ). Ai có trí tuệ thì người đó thành đạt công danh sự nghiệp vững vàng, thành đạt.

Đối với những người tu theo đạo Phật, có trí tuệ cắt đứt mọi phiền não, khổ đau, giải thoát tâm thức khỏi những tham ái, sân hận, nghi ngờ, u mê, an thần và bồn chồn. đạt được sự giải thoát đích thực. Trí tuệ và giải thoát là mục tiêu của tất cả những người tu theo đạo Phật.

Về màu sắc, xá lợi thật có màu của xương chứ không phải màu của đá. Di tích xương có màu trắng hoặc xám xương, và di tích tóc có màu đen. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã cho hai thương gia vào tuần lễ thứ 7 sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ đề để tóc tưởng niệm, sau khi nhận bánh sữa từ họ. Nơi đây đánh dấu việc Đức Phật thành lập “Hai Kho tàng”, bao gồm Đức Phật và Giáo Pháp (những học thuyết quan trọng được Ngài thiết lập trong 7 tuần đầu tiên sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề).

Xá lợi tóc của Đức Phật hiện đang được thờ tại một bảo tháp cao 100m ở thủ đô Yangon, Myanmar, được coi là báu vật linh thiêng nhất của cộng đồng Phật giáo Miến Điện. Không phải ai cũng có cơ hội nhìn thấy “di vật tóc” đó. Đối với những người tu theo đạo Phật, có trí tuệ cắt đứt mọi phiền não, khổ đau, giải thoát tâm thức khỏi những tham ái, sân hận, nghi ngờ, u mê, an thần và bồn chồn. đạt được sự giải thoát đích thực. Trí tuệ và giải thoát là mục tiêu của tất cả những người tu theo đạo Phật.

Theo Kinh Kim Quang Minh Ấn do Đại Sư Trí Quang chú giải (Quyển 4, Chương 4, Xả Thân), có đoạn: “Xá lợi là kết quả của sự tu tập trì giới, định, tuệ mà có. khó thành tựu, nên là lĩnh vực công đức tối cao trong thiên hạ ”. Đoạn văn này cho chúng ta thấy những di vật mang tính biểu tượng như xá lợi lưỡi của Đại sư Kumarajiva, xá lợi trái tim của Bồ tát Thích Quảng Đức, xá lợi đầu tượng trưng cho Trí tuệ của Sư Trí Quang…

Xá lợi là kết quả của sự thực hành thanh tịnh trong đức hạnh, sự viên mãn trong thiền định, và trí tuệ siêu phàm đã đạt được. Vì vậy, Tăng Ni và Phật tử phải thờ xá lợi có hình dạng lục phủ ngũ tạng, mang tính chất biểu tượng đó như một ruộng công đức để chúng ta chiêm ngưỡng, thành kính, cúng dường. Chúng tôi làm cho cuộc sống thật hạnh phúc.

The Great Wisdom Doctrine, quyển 59, có đoạn văn như sau: “Sariputra là kết quả của việc thực hành sáu viên mãn.” Sáu sự hoàn hảo bao gồm rộng lượng, đạo đức, siêng năng, nhẫn nại, thiền định và trí tuệ. Khi đã hoàn thiện sáu viên mãn mà chư Bồ tát tu hành, sau khi viên tịch và lễ hỏa táng, các vị cao tăng thường để lại xá lợi, tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân nương tựa tu tập để phát huy hơn nữa việc tu hành theo Phật pháp, truyền bá chân lý Phật đà, đem lại lợi lạc cho bản thân họ và cuộc sống.

Thuyết Đại Trí Độ tiếp tục dạy: “Cúng dường xá lợi của Đức Phật, bạn sẽ nhận được vô lượng phước báu.” Tương tự như các vị đại sư hay các vị cao tăng, xá lợi của các Ngài trở thành niềm tin vững chắc về sự thực hành chân lý của Đức Phật đối với cộng đồng tăng, ni và phật tử toàn cầu.

Chúng ta tôn kính xá lợi trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức, xá lợi lưỡi của Đại sư Cuuma-la-ch, và xá lợi của Đại sư Trí Quang tượng trưng cho trí tuệ. , xá lợi toàn thân của Thiền sư Vũ Khắc Minh, Thiền sư Vũ Khắc Trường, Thiền sư Trương Cheệt và Thiền sư Như Trí, Thiền sư Bảo Soái của Việt Nam, Sư Huệ Năng, và Sư Hàm Sơn của Trung Quốc. Có phúc thật khó đong đếm. Xá lợi là kết quả của sự thực hành thanh tịnh trong đức hạnh, sự viên mãn trong thiền định, và trí tuệ siêu phàm đã đạt được. Vì vậy, Tăng Ni và Phật tử phải thờ xá lợi có hình dạng lục phủ ngũ tạng, mang tính chất biểu tượng đó như một ruộng công đức để chúng ta chiêm ngưỡng, thành kính, cúng dường. Chúng tôi làm cho cuộc sống thật hạnh phúc.

Như vậy, đối với cộng đồng Phật giáo Việt Nam, ngoài 5 xá-lợi toàn thân, chúng tôi có 2 xá-lợi biểu tượng rất đặc thù trong vòng 56 năm qua. Năm 1963, toàn thế giới xuất hiện trước xá-lợi trái tim của Bồ-tát Thích Quảng Đức còn nguyên sau lễ tự thiêu thứ nhất tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt vào ngày 11 tháng 6 năm 1963, lần thứ hai tại lò nướng để lại đến 4000 độ C trong suốt mấy tiếng đồng hồ mà tim vẫn còn nguyên, biểu tượng cho tinh thần từ bi, xóa bỏ hận thù, mong cho chính quyền Ngô Đình Diệm không nên phân biệt đối xử với thiên thần vị Thiên chúa giáo để chà đạp lên nền Phật giáo, để mang lại niềm tin yêu đời sống hài hòa giữa những người theo các tôn giáo khác nhau theo luật định.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, cộng đồng Phật giáo Việt Nam trong nước và trên thế giới vui mừng vì Việt Nam có xá-lợi duy nhất và đầu tiên trên toàn cầu, tượng trưng cho trí tuệ. Phật giáo Việt Nam trong phong trào đấu tranh năm 1963 với sự lãnh đạo tài chính của Đại sư Trí Quang có 2 biểu tượng xá-lợi rất đặc biệt: xá lợi trái tim trưng bày từ bi của Bồ-tát Quảng Đức and xá-lợi đầu tượng trưng cho trí tuệ của Đại sư Trí Quang.

Trí tuệ là giải pháp cho tất cả mọi vấn đề, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, xã hôi… trong phạm vi toàn cầu, phạm vi châu lục, phạm vi khu vực, phạm vi quốc gia, phạm vi đồng cộng cộng, phạm vi gia đình hay là phạm vi cá nhân. Áp dụng trí tuệ như giải pháp, chúng ta sẽ đóng lại toàn bộ thống khổ và niềm đau.

Có thể bạn quan tâm:  Download misa 2017 - 2019 full crack - Đầy đủ nhất, Link sống mới nhất

Trích: Di sản Đại sư Trí Quang để trở lại Việt Nam

Nhà sư Thích Chơn Thanh để lại lợi nhuận sau khi viên tịch

TT. Thích Chơn Thanh lưu lại điện thoại lợi nhuận huyền ảo

Phật giáo toàn thế giới có thành viên Xá Lợi được nhắc nhở và tôn giáo, đó là Xá lợi nhuận của Ngài Cưu Ma La Thập được truyền tụng hơn 2000 năm.

Cưu Ma La Thập dịch nhiều Kinh từ Phạn ra tiếng Tàu, khoảng 98 Kinh, nay mất tích chỉ còn lại độ 50 Kinh. Ngài là người nước Dao Tần, ngày nay được gọi là Tân Cương. Cha là người Ấn Độ, mẹ là công chúa nước Dao Tần. 

Ngài dịch nhiều Kinh Phật nhất, nên có lời nguyện, nếu Kinh Ngài dịch không sai chính pháp thì khi lâm chung xin lưu lại bảng điều khiển để làm chứng chỉ. Kết quả, được làm như ý.

   Tuy Cưu Ma La Thập dịch nhiều Kinh cho nước Tàu, nhưng vẫn chưa phải là người đầu tiên dịch. Người đầu tiên là An Thế Cao. An Thế Cao là vua của nước Ba Tư ngày nay. Ngài kế thừa ngôi vua chỉ có nửa năm, nhường ngôi vua cho người chú rồi đi tu Phật, Kinh Phật dịch tại nước và chết ở đó! 

Một nhà sư Việt Nam lưu lại bộ phận bảo quản  Xá lợi huyền diệu  

 Nhà sư nói đây là Thượng Tọa Thích Chơn Thanh. Nhiều trường hợp, thầy đặt huy hiệu cho đệ tử, lắm khi được đặt cho cả sự nghiệp của người đó.

Chơn Thanh – một âm thanh, hay một cái gì đó thanh tịnh, thanh cao chơn thật nhất. Cho nên trong cuộc sống tu hành, Thượng Tọa Chơn Thanh đã sử dụng âm thanh nói đi khắp nơi, hoằng truyền giáo pháp của Phật.

   Năm 1971, Viện Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm chính thức khai giảng, Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Viện trưởng, Hòa thượng Thích Bửu Huệ làm Phó Viện trưởng, Thượng Tọa Chơn Thanh theo học suốt chương trình 8 năm tại Viện và mãn khóa vào năm 1977. Tuy nhiên, chương trình Kinh học vẫn tiếp tục đến năm 1991 do Hòa Thượng Trí Tịnh hướng dẫn. 

THỜI KỲ HÀNH ĐẠO 

   Trong thời gian tu học tại Viện, nhất là từ năm 1966-1975, Thượng Tọa là một trong những bộ Phật giáo được xây dựng trên nền tảng Phật giáo của các tỉnh miền Tây và miền Đông theo chủ trương của Giáo hội. Đồng thời là một thành viên trong Giảng sư đoàn Trung ương thuộc Tổng dịch vụ Hoằng pháp do Hòa Thượng Thích Huyền Vi làm Tổng công ty truyền bá chính pháp khắp nơi cho đến ngày Sàigòn đổi chủ.

   Sau ngày 30/4/1975, chương trình theo dấu chân xưa trở về cảnh cũ của Hòa Thượng Viện chủ chùa Huệ Nghiêm đề ra, nhằm mục đích tạo ra những điều thuận lợi trong sự giải thoát, qua pháp môn Phật giáo.

   Thượng tọa độ cùng với các phương pháp luân phiên nhập thất tịnh tiến, tránh duyên, một tâm nguyện thoát kiếp, hầu báo trả lời công ơn Thầy Tổ, tự sinh về Hoa Liên, là Cực Lạc ở Tây Phương, to when the vô mạng thường xuyên, Phật A Di Đà tiếp.

   Chúng ta chú ý ở đây, sau ngày 30/4/1975, vì hoàn cảnh đất nước, Thầy Chơn Thanh nhiều lần nhập Phật thất danh hiệu A Di Đà Phật.

   Theo một vị trí thượng tọa, rất gần với TT Chơn Thanh đã viết cho chúng tôi, từ đó mỗi ngày của Thầy càng tỏa sáng. Hội đồng giáo dục trong nước mời thầy trách nhiệm. Giáo dục Tăng Ni và Trưởng Ban Hoằng Pháp. Từ đó, “chơn thanh” của Thầy được dùng đến và Thầy chân thành đi khắp mọi miền đất nước. Với giọng nói như hòa, Thầy dùng ái ngữ từ hướng dẫn cho mọi người. Đơn giản cuộc sống, không tranh đua danh lợi, không mong muốn hưởng thụ.

   Từ năm 1981 đến năm 2002, trong suốt 20 năm, Thầy sử dụng sữa rửa mặt hồng danh A Di Đà Phật và khuyến cáo mọi người Nam Mô A Di Đà Phật, khi Thầy giảng pháp.

   Khi viết tài liệu thập phân về Thầy Chơn Thanh, chúng tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, nhưng không thấy nguyên nhân tại sao Thầy Chơn Thanh lưu lại cái cô Xá lợi.

   Vì vậy, chúng tôi rất nhiều lần yêu cầu người quen ở Việt Nam tiếp xúc với Thượng Tọa gần với Thầy Chơn Thanh để hỏi mấy điều và được biết

   1- Trước khi mất, Thầy Chơn Thanh có lời từ giã tại các lớp giảng dạy và khuyến khích mọi người nên tịnh tâm. Thầy chụp hình gửi tặng Tăng Ni sinh kỷ niệm. Như vậy, có nghĩa là Thầy đã biết trước thời kỳ của Thầy. Có lần nào nghe thầy vô tình hé lộ không?

   Thật ra, ít người tiết lộ điều này, như trường hợp của Sư Bà Trí Thuần, viện chủ chùa Dược Sư cũng không tiết lộ; dù rằng Sư Bà đã gửi lại lời chúc mừng trước 2 năm.

   2- Với ý niệm Phật cầu sanh, Thầy Chơn Thánh nhập Phật thất mấy lần. Thiên hạ nhiều người cũng tu hành, nhưng lo cho thân nhiều hơn là lo cho đạo pháp. Nhưng với Thầy Chơn Thanh, Thầy nhìn thấy cần phải chuyên tâm niệm Phật và luôn luôn dạy cho người khác niệm Phật trong suốt 20 năm.  

   Nếu nói rằng, do thầy có tài liệu tổ chức điều khiển các buổi lễ lớn, thì nên trả lại lời nói, thầy dạy thì thật không đúng.

   Trong sách này, chúng tôi xin nhắc lại chuyện thầy Thiện Thông, trước khi thiền định hướng Tịnh Độ. Nhờ niệm Phật mà thầy hết bệnh. Đã dịch xong 3 Kinh Tịnh Độ, học thuộc 48 Đại nguyện của Phật A Di Đà. Khi Thầy lâm chung, Thượng tọa Như Điển thấy Phật A Di Đà đến Thầy.

Nhờ đọc bài của TT Thích Minh Thông cũng là một giảng sư gần gũi với Thầy Chơn Thanh, chúng tôi thấy chỗ lưu lại “Xá Lợi Lặng” của Thầy Chơn Thanh. 

   Thầy Minh Thông viết cho chúng tôi, tôi: 

    “Vì hơn 20 năm, Thầy luôn sử dụng sửa chữa này để vận chuyển các phương pháp dẫn dắt chúng ta khỏi bến mê. Cũng dùng lại những lần sử dụng này lên hồng sanh A Di Đà Phật. Khuyến khích mọi người Phật giáo, mau thoát khỏi cảnh khổ ”.

     Đặc biệt, với pháp môn Phật giáo là mình phải tự lực và hành lang Phổ Hiền bảo vệ cho tất cả chúng ta sinh ra. Thầy Chơn Thanh tự mình niệm Phật không ngừng mà còn dạy và nhắc nhở mọi người niệm Phật. This new is a thật sự bảo vệ.

    Như chúng tôi đã nói, sử dụng giảng dạy, các pháp sư chuyên giảng pháp đều làm. Đặc biệt là Thầy Chơn Thanh tự mình niệm Phật và không ngừng giảng dạy cho người khác niệm Phật, mọi người niệm Phật. 

   Đây là bài học chung cho tất cả những ai muốn trở thành Cực Lạc, phải có công phu thật sự. Nhờ vào công phu thật sự mà Thầy Chơn Thanh biết trước ngày đi của Thầy.  

   Thầy Minh Thông viết:

   “Thầy ra đi rất nhẹ nhàng sau cơn đau nhẹ, giữa tiếng hỗ trợ của những người đồng tu”.

    Tại sao Thầy Chơn Thanh đi được đẹp như thế? Vì trong ngót 20 năm qua, thầy trò bận lo lắng tiền bạc chi trả. Thân tâm Thầy thanh tịnh chỉ biết giảng pháp, dạy người Phật cầu sanh và tự mình niệm Phật.

   Hãy nghe lời bình của Thầy Minh Thông nói về Thầy Chơn Thanh.

   “Thầy Chơn Thanh là một nhà sư điềm đạm, luôn luôn hy sinh vì mọi người. Quả thật thầy hành hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ”. 

   Kinh Hoa Nghiêm Phật nói: “Bồ Tát mà hành Phổ Hiền, chẳng thành Phật đạo”.

   Chúng tôi rất tiếc rằng mình không thể có mặt tại Sàigòn để tiếp xúc với những ai sống hoặc từng là học trò của Thầy Chơn Thanh, để tìm hiểu nhiều hơn đối với những điều đã viết.

   Chúng tôi hy vọng sau khi cuốn sách này được phổ biến rộng, chúng tôi sẽ cung cấp thêm dữ liệu để tái bổ sung đầy đủ hơn. Vì tự nhiên đây là lời nói thật quá nghèo nàn, không up hết công cụ phu tu hành của một bậc Bồ Tát sanh đã lưu lại cho hậu thế hệ điều hành Xá lợi.

   Thượng Tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Mến. Thượng Tọa có 6 anh em, 2 trai 4 gái. Ngài là anh cả trong gia đình.

    Vốn sinh ra và lớn lên trong gia đình nghèo hậu hĩ, giàu lòng tin Tam Bảo, nhất là gieo hạt giống Bồ Đề, nên sau khi cơ duyên đủ, nhân xuất gia đến thời pháp. Thượng tọa phát tâm xuất gia đầu sư với Hòa thượng Thích Thiện Thọ, trụ trì chùa Phước Lâm, huyện Tân Uyên, Biên Hòa nay là tỉnh Bình Dương. Được bổ sung sư ban pháp húy là Nhật Bé, hiệu Chơn Thanh. 

   Tại Đại hội đại biểu Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VI, Thượng tọa độ được đại hội suy cử làm Chánh Thư ký Ban Trị sự của Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh cho đến ngày xả một bức tường

  • TT. Thích Chơn Thanh lưu lại điện thoại lợi nhuận huyền ảo

Nhà sư để lại lợi nhuận sau khi viên tịch

A AA AReset

4.4k87.7kchia chia sẻ Twitter Không có kết quảXem tất cả kết quả

Xem thêm gần đây

Hành trình về phương Đông

Kinh Pháp Hoa – Thích Trí Tịnh dịch

Hiện tại – 7 tập

Báo Ngày Nay – Tập 3 – Hạnh Đoan dịch

Đạt Ma Đạt Ma Dịch Cân Kinh – Chữa Bệnh Và Tăng Cường Sức Khỏe – Tổng hợp mới nhất

Nghiên cứu Phật học Căn bản – Tập Một

TT. Thích Chơn Thành lưu lưỡi xá lợi

Cập nhật: 15/07/2007 Bản tiếng Anh: Hòa thượng cùng với các pháp hữu lần lượt nhập thất, tránh khó khăn, phát nguyện vãng sanh, để báo đáp ân đức của Sư phụ, nguyện sanh về Hoa Liên cảnh giới, nơi Cực Lạc Tây Phương. cho đến tuổi thọ vô thường, Phật A Di Đà tiếp dẫn. 

Có thể bạn quan tâm:  Yomost là gì - Tất tần tật thông tin về Yomost

      Các tín đồ Phật giáo trên khắp thế giới có một di vật được nhắc nhớ và tôn kính, đó là di vật lưỡi của chúa Kumarajiva được lưu truyền hơn 2000 năm.
   Cưu Ma La Thập dịch nhiều Kinh từ Phạn ra tiếng Tàu, khoảng 98 Kinh, nay mất tích chỉ còn lại độ 50 Kinh. Ngài là người nước Dao Tần, ngày nay được gọi là Tân Cương. Cha Ngài là người Ấn Độ, mẹ là công chúa nước Dao Tần. Nhiều Kinh Phật nhất, nên có lời nguyện, nếu Kinh Ngài dịch ra không sai pháp lý thì khi lâm chung xin lưu lại trang web để làm chứng chỉ . Kết quả, được làm như ý.

   Tuy Cưu Ma La Thập dịch nhiều Kinh cho nước Tàu, nhưng vẫn chưa phải là người đầu tiên dịch. Người đầu tiên là An Thế Cao. An Thế Cao là vua của nước Ba Tư ngày nay. Ngài kế thừa ngôi vua chỉ có nửa năm, nhường ngôi vua cho người chú rồi đi tu Phật, Kinh Phật dịch tại nước và chết ở đó! 
Một nhà sư Việt Nam lưu lại
chiếc điện thoại kỳ diệu  

   Nhà sư nói đây là Thượng Tọa Thích Chơn Thanh. Nhiều trường hợp, thầy đặt huy hiệu cho đệ tử, lắm khi được đặt cho cả sự nghiệp tương lai của con người.

   Chơn Thanh – một âm thanh, hay một cái gì đó thanh tịnh, thanh cao chơn thật nhất. Cho nên trong cuộc sống tu hành, Thượng Tọa Chơn Thanh đã sử dụng âm thanh nói đi khắp nơi, hoằng truyền giáo pháp của Phật.

   Năm 1971, Viện Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm chính thức khai giảng, Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Viện trưởng, Hòa thượng Thích Bửu Huệ làm Phó Viện trưởng, Thượng Tọa Chơn Thanh theo học suốt chương trình 8 năm tại Viện và mãn khóa vào năm 1977. Tuy nhiên, chương trình Kinh học vẫn tiếp tục đến năm 1991 do Hòa Thượng Trí Tịnh hướng dẫn. 

THỜI KỲ HÀNH ĐỘNG 

   Trong thời gian tu học tại Học viện, nhất là từ năm 1966-1975, Hòa thượng là một trong những cán bộ Phật giáo đi xây dựng cơ sở Phật giáo ở các tỉnh miền Tây và miền Đông theo chủ trương của Giáo hội. Đồng thời là thành viên Phân ban Giảng sư Trung ương thuộc Tổng cục Phổ biến Pháp luật do Hòa thượng Thích Huyền Vị làm Tổng trưởng, truyền bá Phật pháp khắp nơi cho đến ngày Sài Gòn đổi chủ.

   Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chương trình theo bước chân xưa trở về cảnh xưa do Hòa thượng trụ trì chùa Huê Nghiêm đề xuất, nhằm tạo thắng lợi giải thoát qua phương pháp niệm Phật.

   Hòa thượng cùng với đạo hữu lần lượt nhập thất, tránh kiếp nạn, phát nguyện vãng sanh, để báo đáp ân đức của Bổn Sư, nguyện sanh về cõi Hoa Liên, nơi Cực Lạc. ở phía tây. cho đến tuổi thọ vô thường, Phật A Di Đà tiếp dẫn.

   Chúng ta chú ý ở đây, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì hoàn cảnh đất nước, Thầy Chơn Thành nhiều lần nhập Phật mà không niệm danh hiệu Phật A Di Đà.

   Theo lời kể của một Thượng tọa, rất thân cận với Chủ tịch Chơn Thành viết cho chúng tôi, kể từ đó mỗi ngày phẩm hạnh của Ngài càng tỏa sáng. Giáo hội Phật giáo trong nước cung thỉnh Ngài đảm nhiệm vai trò giáo dục Tăng Ni kiêm Trưởng ban Truyền bá Phật pháp. Kể từ đó, “thanh chân” của ông được sử dụng và gót chân của ông đã đi khắp mọi miền đất nước. Với giọng nói nhẹ nhàng, anh dùng những lời yêu thương từ trái tim để hướng dẫn mọi người. Anh sống giản dị, không tranh giành danh lợi, không mưu cầu hưởng thụ.

   Từ năm 1981 đến năm 2002, trong hơn 20 năm, ông đã dùng lưỡi của mình để niệm Phật A Di Đà và khuyến khích mọi người niệm Nam Mô A Di Đà Phật khi ông đang giảng dạy.

   Khi sưu tầm tài liệu viết về Sư Chơn Thành, chúng tôi đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng không thấy lý do gì mà Sư Chơn Thành lưu lại cái lưỡi của xá lợi.

   Vì vậy, chúng tôi đã nhiều lần nhờ người quen ở Việt Nam liên lạc với Hòa Thượng Chơn Thành thân cận để hỏi thăm đôi điều và tìm hiểu

   1- Trước khi qua đời, Sư Chơn Thành có nói lời từ biệt tại các lớp giảng. và khuyến khích mọi người tịnh tâm niệm Phật. Anh còn chụp những tấm hình để gửi tặng các tăng ni làm kỷ niệm. Như vậy, có nghĩa là Thầy đã biết ngày mất của mình. Vậy bạn đã bao giờ nghe Sư phụ vô tình tiết lộ chưa?

   Thực ra điều này ít ai tiết lộ, như trường hợp Sư Bà Trí Thuận, viện chủ chùa Dược Sư cũng không tiết lộ; Mặc dù Thầy đã để lại di chúc cách đây 2 năm.

   2- Với chí nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, Thầy Chơn Thành đã mấy lần vào Phật thất. Nhiều người trên thế giới, mặc dù cũng tu hành, nhưng họ quan tâm đến cuộc sống của họ hơn là về Phật pháp. Nhưng với thầy Chân Thành, thầy thấy rõ cần phải chuyên tâm niệm Phật và luôn dạy người niệm Phật suốt 20 năm. 

   Nói như vậy là không đúng vì Thầy có tài ăn nói và chỉ đạo các buổi lễ lớn nên khi vãng sanh sẽ để lại xá lợi lưỡi.

   Trong cuốn sách này, chúng ta nhớ lại câu chuyện của Sư Thiện Thông, người đầu tiên tu Thiền sau đó hướng về Tịnh độ. Nhờ niệm Phật, anh đã khỏi bệnh hiểm nghèo. Sau đó Ngài dịch 3 Kinh Tịnh Độ, thuộc lòng 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà. Khi Sư hấp hối, Hòa thượng Như Điển thấy Phật A Di Đà đến đón.

Nhờ đọc bài của TT Thích Minh Thông, cũng là giảng sư thân cận với Thầy Chơn Thành, chúng tôi thấy ngay nơi lưu giữ “Lưỡi Sa Lợi” của Thầy Chơn Thành.

   Thầy Minh Thông viết cho chúng tôi: 
    “Trong hơn 20 năm, Ngài luôn dùng miệng lưỡi này để truyền bá Phật pháp để dẫn dắt mọi người thoát khỏi mê lầm. Cũng dùng lưỡi này để niệm ngày hồng sanh của Đức Phật A Di Đà. Khuyên mọi người niệm Phật, mau thoát khổ ”.
     Đặc biệt, với pháp môn niệm Phật, chúng ta phải tự lực, tu hạnh Phổ Hiền để cúng dường cho tất cả chúng sinh. Thầy Chân Thành tự mình niệm Phật không ngừng, mà còn dạy và nhắc nhở mọi người niệm Phật. Đây là cung cấp thực sự.
    Như chúng ta đã nói, việc giảng dạy Giáo Pháp bằng miệng lưỡi được thực hiện bởi tất cả các giảng viên Giáo Pháp. Đặc biệt là bản thân sư phụ Chân Thành đã niệm Phật và không ngừng dạy người khác niệm Phật, khuyên người niệm Phật.

   Đây là bài học chung cho tất cả những ai muốn vãng sanh Cực lạc, phải có thực hành. Nhờ nỗ lực thực sự, Thầy Chơn Thành đã biết trước ngày ra đi. 

   Thầy Minh Thông viết:
   “ Thầy ra đi rất nhẹ nhàng sau một cơn bệnh nhẹ, giữa tiếng tụng kinh của đồng tu”.

    Tại sao Thầy Chơn Thành lại ra đi tốt đẹp như vậy? Vì 20 năm qua Thầy không nề hà chuyện tiền chùa. Thân tâm thanh tịnh của thầy chỉ biết thuyết giảng Phật pháp, dạy người niệm Phật cầu vãng sanh, tự mình niệm Phật.

   Hãy nghe Thầy Minh Thông nhận xét về Thầy Chơn Thành.

   “Thầy Chơn Thành là một vị sư điềm đạm, hiền lành, luôn hy sinh vì mọi người. Quả thật, tôi đã thực hành Phổ Xứng Bồ tát ”.
 
   Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật nói: “Nếu một vị Bồ tát không thực hành Phổ Hiền, vị ấy sẽ không đạt được quả vị Phật”.
 
   Chúng tôi rất tiếc không thể có mặt ở Sài Gòn để liên lạc với những người đã từng sống hoặc từng là học trò của Thầy Chơn Thành, để tìm hiểu thêm về những điều đã viết.
 
   Chúng tôi mong rằng sau khi cuốn sách này được phổ biến rộng rãi, chúng tôi sẽ được cung cấp thêm thông tin để lần tái bản hoàn chỉnh và đầy đủ hơn. Vì thế, đây là điều quá tội nghiệp, chưa nói hết sự tu hành của một vị Bồ tát đã tái sinh và để lại cho hậu thế cái lưỡi Sariputra bất hoại.
 
 
   Hòa thượng Thích Chơn Thành, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Cha là ông Phan Văn Vĩnh, mẹ là bà Nguyễn Thị Mến. Hòa thượng có 6 sư huynh, 2 trai, 4 gái. Anh là con cả trong gia đình.
 
    Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, giàu lòng tin Tam Bảo, nhất là đã gieo mầm Bồ Đề, sau khi đủ duyên, người ta xuất gia cho đến lúc phạm pháp. Hòa thượng đã phát tâm xuất gia với Hòa thượng Thích Thiện Thọ, trụ trì chùa Phước Lâm, huyện Tân Uyên, Biên Hòa, nay là tỉnh Bình Dương. Được đạo sư ban cho là Nhất Thể, hiệu Chơn Thành.
 
   Tại Đại hội đại biểu Phật giáo TP.HCM lần thứ VI, Hòa thượng được đại hội suy cử giữ chức vụ Chánh Thư ký HĐTS, kiêm Trưởng Ban Phổ biến Giáo luật Phật giáo TP.HCM. Hội cho đến ngày ra mắt báo chí. Yên tâm


Video Xá lợi lưỡi – Tất tần tật thông tin về Xá lợi lưỡi

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Xá lợi lưỡi – Tất tần tật thông tin về Xá lợi lưỡi! Starwarsvn.com hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Starwarsvn.com chúc bạn ngày vui vẻ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here