Bạn đang tìm thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Starwarsvn.com gửi tới các bạn bài viết Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật . Cùng Starwarsvn.com tìm hiểu ngay thôi

TS CAO WU MINH

Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Tóm tắt:     Theo quy định của pháp luật, cần đảm bảo tính hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật trong khi xuất bản văn bản quy phạm pháp luật. Vấn đề thực tế đặt ra là xử lý như thế nào đối với các văn bản quy phạm pháp luật có khiếm khuyết do không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả phân tích quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc đề xuất phương hướng xử lý dứt điểm khi làm việc đối với các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, cá nhân ở Trung ương ban hành. Từ khóa:     văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền của Quốc hội. Tóm lược: Theo quy định của pháp luật, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật cần được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật. Vấn đề thực tế đặt ra là làm thế nào để xử lý các văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết do không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả phân tích quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, tổ chức cá nhân ở Trung ương ban hành và đưa ra các kiến ​​nghị để tiếp tục hoàn thiện. Từ khóa:     văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền của Quốc hội.

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật -

  Ví dụ: Nguồn Internet    1. Làm việc với các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan chính quyền trung ương và các cá nhân ban hành    1.1. Quyền hạn của Quốc hội,     Ủy ban thường vụ Quốc hội  trong việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức cá nhân ở trung ươngVề mặt lý thuyết, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước hoặc thể nhân do cơ quan chính phủ ban hành hoặc cùng ban hành theo thẩm quyền, hình thức và thủ tục do pháp luật quy định. trong đó có quy tắc xử sự ràng buộc chung để điều chỉnh các quan hệ công chúng theo ý chí của nhà nước và được nhà nước bảo đảm thực hiện [1]. Các văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành bởi các cơ quan chính phủ, các cá nhân cấp trung ương hoặc địa phương. Các văn bản quy phạm pháp luật, một khi được công bố, chỉ có thể trở thành một bộ phận cấu thành của cơ chế quản lý khi nội dung và hình thức của chúng vừa mang lại tính hợp pháp, vừa hợp lý [2]. Một câu hỏi thực tế quan trọng đặt ra là làm thế nào để xử lý các văn bản quy phạm pháp luật có khiếm khuyết do không đáp ứng được các yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý. dừng lại    ,   thay đổi     và     bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật [3] Đình chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp ngăn chặn ngay khả năng tiếp tục gây ra tác dụng ngược của văn bản đó. Về nguyên tắc, các văn bản quy phạm pháp luật vẫn tồn tại đối với việc thực hiện quyền đình chỉ. Các văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ sẽ hết hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi bỏ thì quyết định này mất hiệu lực thi hành; Nếu không, quyết định sẽ vẫn có hiệu lực. Vì vậy, việc bỏ văn bản quy phạm pháp luật là chế tài nặng nhất, mạnh nhất và rõ ràng nhất. Trong khi đó, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thay đổi tên hoặc một phần nội dung của quyết định mà vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi. Những thay đổi được thực hiện trong các tài liệu quy phạm đã xuất bản, áp dụng nếu chủ thể được ủy quyền thay đổi quyết định của mình. Tuy nhiên, tình huống này không thể được coi là một chế tài của pháp luật. Ngoài ra, Luật Xuất bản văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2020 (Luật Xuất bản văn bản quy phạm pháp luật). “Bổ sung”     ,     “thay thế”     . Tuy nhiên, các thuật ngữ “thêm”     và     “sửa đổi”   không có ý nghĩa pháp lý mới, vì chúng được bao gồm trong quyền ban hành tài liệu:     một tập hợp các quy tắc có thể có để chỉnh sửa hoặc  “thêm”     , “sửa đổi” một tài liệu văn bản cũ, quy phạm [4]. Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân. Văn phòng Công tố. Tòa án tối cao trái với Hiến pháp, luật và các quyết định của Quốc hội (điều 10, điều 70). Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, quyết định của Quốc hội và trình đến hội. Quốc hội quyết định. hủy tài liệu này trong cuộc họp tiếp theo; hủy các tài liệu của chính phủ, thủ tướng,   ”    1. Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và  các cơ quan khác  do Quốc hội thành lập vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội . Cuộc họp. phù hợp với quy định của pháp luật của Quốc hội. ý kiến ​​giới thiệu của Ủy ban thường vụ Quốc hội; 2. Theo đề nghị của Nguyên thủ quốc gia, Quốc hội bãi bỏ văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.; 51 quy định Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành hoặc theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, đình chỉ việc thi hành văn bản của Ủy ban của Quốc hội hoặc của Đại biểu Quốc hội. Tòa án nhân dân tối cao, Văn phòng Công tố nhân dân tối cao và     các cơ quan khác   do Quốc hội thành lập vi phạm Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội, kỳ họp sau trình Quốc hội quyết định bãi bỏ các văn bản này. . Ủy ban thường vụ Quốc hội theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội thu hồi văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các cơ   quan khác do Quốc hội thành lập    vi phạm quy chế, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Như vậy, so với Nghệ thuật. 10, Nghệ thuật. 70 của Hiến pháp 2013, Điều     . Các thể chế do Quốc hội thành lập    điều đó trái với Hiến pháp. Luật và quyết định của Quốc hội. Tương tự như vậy, so với điều 74 khoản 4 của Hiến pháp năm 2013, điều 51 của Luật tổ chức Quốc hội đã bổ sung thêm quyền cho Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ văn bản  của các cơ quan khác do Quốc hội thành lập. Nghị viện, là   trái với Hiến pháp và pháp luật. , nghị quyết của Quốc hội, của Quốc hội    Văn bản bãi bỏ cơ quan khác do    Quốc hội thành lập trái với lệnh, quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Theo Hiến pháp 2013,    quy định của Luật Tổ chức Quốc hội thì  các tổ chức khác  do   Quốc hội thành lập là: bộ, tổ chức ngang bộ; Kiểm soát nhà nước; Hội đồng bầu cử quốc gia; Ủy ban đặc biệt; Ủy ban Dự thảo Hiến pháp. Các cơ quan khác   do Quốc hội    thành lập  Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ nêu trên (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ), Kiểm toán viên chính phủ (Kiểm toán viên chính nhà nước) có thẩm quyền ban hành VBQPPL [5]. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ công bố không phù hợp với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp cao thì bị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ thi hành hoặc hủy bỏ. 164 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Nhà nước làm trái Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội. 3, Nghệ thuật. 164 nghị định, Đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chủ tịch Quốc hội tối cao, Tổng công tố viên tối cao Công tố viên Nhân dân. Văn phòng. Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước vi phạm Hiến pháp, luật và các quyết định của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ các văn bản này trong kỳ họp tới. Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, không thấy trước Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho những văn bản liên tịch như nghị quyết liên tịch, thông tư liên tịch là vi hiến, trái pháp luật. và các quyết định. nghị quyết của Quốc hội; Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vấn đề này được quy định trong Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc năm 2015. Tuy nhiên, Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc không quy định quyền hạn của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cuộc họp. Cuộc họp. Trong việc xử lý các công văn liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, các quyết định của Quốc hội; Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vấn đề này được quy định trong Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc năm 2015. Tuy nhiên, Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc không quy định quyền hạn của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cuộc họp. Cuộc họp. Trong việc xử lý các công văn liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, các quyết định của Quốc hội; Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vấn đề này được quy định trong Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc năm 2015. Tuy nhiên, Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc không quy định quyền hạn của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cuộc họp. Cuộc họp. Trong quá trình xử lý công văn liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Nếu văn bản này vi hiến thì chủ nhiệm kiểm toán nhà nước     , các bộ trưởng, trưởng ban ngành cấp bộ. , luật và tài liệu của các cơ quan chính phủ hàng đầu. 1.2. Quy trình làm việc với các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương và cá nhân ban hành trái với Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội; Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ   Quốc hội    theo quy định tại Điều 214 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng dân tộc. Theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước, xem xét các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật hoặc quyết định của   Quốc     hội     . . Trong đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước sẽ trình bày báo cáo. Sau đó đại diện của tổ chức kiểm toán trình báo cáo kiểm toán. Trưởng ban công bố văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, quyết định của Quốc hội báo cáo, giải trình. Sau đó, TGNA quyết định trao đổi, thảo luận về các văn bản quy phạm trái với Hiến pháp, luật và quyết định. Trường hợp khẳng định văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, quyết định của Quốc hội thì Quốc hội hủy bỏ một số hoặc toàn bộ văn bản này. Ngoài ra, hãy tự quyết định theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.Tạo văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hơn nữa, việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội được thực hiện theo đề nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Nhà nước. Văn phòng. . Giám sát, Ủy ban Trung ương Mặt trận yêu nước Việt Nam, cơ quan trung ương của các tổ chức thành viên của mặt trận. Đặc biệt, đại diện các cơ sở, tổ chức và cá nhân đã được trình bày tham luận. Sau đó đại diện của tổ chức kiểm toán trình báo cáo kiểm toán. Người đứng đầu cơ sở hoặc người ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện vi hiến thì luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội. . Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là vi hiến thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ thi hành và trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện vi hiến thì luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội. . Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. quyết định đình chỉ đơn trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Nếu các văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện là vi hiến, các luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ việc thi hành trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. quyết định đình chỉ đơn trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Nếu văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện là vi hiến thì luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ việc thi hành để trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện vi hiến thì luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội. . Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và công bố nghị quyết về văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật bị phát hiện vi hiến thì luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội. . Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ thi hành và trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo. Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định đình chỉ thi hành trình Quốc hội. Bãi bỏ một số hoặc tất cả các tài liệu này vào cuộc họp tiếp theo.2. Những khiếm khuyết trong các quy định của pháp luật về     xử lý văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước và cá nhân ở trung ương    . Trước hết, quy định làm việc với các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương và cá nhân ban hành là trái với Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội; Các nghị định, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ   Quốc hội còn   phân tán, chưa đầy đủ. Như trên đã nói, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nhưng các văn bản pháp luật hiện hành không quy định cụ thể chủ thể nào có thẩm quyền đình chỉ hoặc hủy bỏ.    ”   Thông tư liên tịch ở    mức  “    trái với Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội” giữa Trưởng  Công tố Tòa phúc thẩm Tối cao, Trưởng Công tố Tòa án Tối cao,     Chánh Thanh tra Nhà nước, các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan Bộ. , Quốc hội; Mặc dù Điều 26 Luật xuất bản văn bản quy phạm pháp luật có quy định như sau nhưng các nghị định, quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội:     Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Công tố viên Quốc hội tối cao, Kiểm toán trưởng Nhà nước, Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ban hành thông tư liên tịch xác định sự phối hợp của các thể chế. phù hợp với quy trình, thủ tục và nguyên tắc của thể chế này  chống tham nhũng. Vì vậy, tình huống trong thông tư này có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và các quyết định của TGNA; Các nghị định, quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ không được tính đến. Thứ hai, thủ tục xử lý văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương và cá nhân ban hành có mâu thuẫn với Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội; Các nghị định, quyết định của Ủy ban Thường vụ   Quốc hội  còn phức tạp.Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái với Hiến pháp, luật, quy chế, nghị quyết thì Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó. Trong trường hợp này, Ủy ban thường vụ Quốc hội tiến hành xử lý văn bản quy phạm pháp luật vi phạm Hiến pháp, luật, quy chế, nghị quyết. Cũng có trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không xét thấy việc đình chỉ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật là không có căn cứ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp thứ nhất, quyền tự chủ thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhân tiện, trường hợp thứ hai phụ thuộc vào quyền của chủ thể khác. Khác với Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật, theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội. Nói cách khác, đối với Hiến pháp, việc loại bỏ các văn bản quy phạm pháp luật trái với luật và nghị quyết của TGNA là không thỏa mãn sự chủ động đầy đủ của Quốc hội. Điều 14 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Milli Majlis quy định Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và Ủy ban trung ương. . Mặt trận Yêu nước Việt Nam, Trung tâm, cơ quan là tổ chức thành viên của Mặt trận, hoặc Nghị viên có quyền yêu cầu một văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp, luật hoặc quyết định. Văn bản được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để trình Quốc hội thảo luận, giải quyết. Trường hợp nghị định, quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc quyết định liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận yêu nước Việt Nam có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, quyết định thì Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận yêu nước Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên Mặt trận hoặc đại biểu Quốc hội, quyền đề nghị Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét, giải quyết. Như vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước phải là cơ quan có thẩm quyền gửi yêu cầu đến Quốc hội trước khi chính thức trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, quyết định của Quốc hội. Hội,, tổ hợp. Ủy ban thường vụ Quốc hội. hoặc tổng thống. Quốc gia. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Có một thực tế là TGNA cho đến nay vẫn chưa bãi bỏ một văn bản quy phạm pháp luật nào trái với Hiến pháp, luật và các quyết định của quốc hội. Nghị quyết của Quốc hội cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Có một thực tế là TGNA cho đến nay vẫn chưa bãi bỏ một đạo luật nào trái với Hiến pháp, luật và các quyết định của quốc hội. Nghị quyết của Quốc hội cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Thực tế là các nghị quyết của Quốc hội từ trước đến nay đều phải có cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Thực tế là các nghị quyết của Quốc hội từ trước đến nay đều phải có cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Sự thật là từ trước đến nay các Nghị quyết của Quốc hội cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Thực tế là các quyết định của Quốc hội từ trước đến nay cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Sự thật là từ trước đến nay các Nghị quyết của Quốc hội đến nay cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Thực tế là các quyết định của Quốc hội từ trước đến nay cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Sự thật là từ trước đến nay các Nghị quyết của Quốc hội cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Sự thật là từ trước đến nay các Nghị quyết của Quốc hội cũng phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước. Có lẽ do hệ thống “khuyến nghị” hai giai đoạn, quyền thu hồi văn bản của Quốc hội đã trở nên quá phóng đại. Sự thật là cho đến nay Xung đột sẽ được giải quyết như thế nào, trừ trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước “thấy”, “yêu cầu” một văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội     , nhưng người được ủy quyền đưa ra lời khuyên như vậy không     “thấy”     mâu thuẫn và     “yêu cầu chính thức”     ? Trong trường hợp này,  “đề nghị chính thức”    sẽ không được áp dụng hay có một cơ chế giải quyết cụ thể nào khác? Các quy định pháp luật hiện hành không trả lời câu hỏi này. 3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về     xử lý văn bản quy phạm pháp luật do các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền ở trung ương ban hành   Thứ nhất,  Quy định công bằng việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật  của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền ở trung ương trong một văn bản quy phạm pháp luật nhằm khắc phục cơ sở pháp lý phân tán.Theo ghi nhận, hiện nay nhiều văn bản quy phạm pháp luật có văn bản sai sót đã được sửa, dẫn đến khi có văn bản quy phạm pháp luật cần phải xử lý thì phải lấy ý kiến ​​của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội. Điều cơ bản. các tài liệu khác nhau. Do đó, vấn đề cần thiết đặt ra là cần phải kết hợp điều chỉnh quá trình xử lý văn bản quy phạm pháp luật trong một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Theo tác giả, Luật Xuất bản văn bản quy phạm pháp luật được coi là “đạo luật”, là cơ sở pháp lý cho việc ban hành và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam; Vì vậy, trong văn bản này cần quy định việc xử lý thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp trung ương của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.Hai là, hoàn thành nhiệm vụ xử lý các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền ở trung ương ban hành có quy định trái với Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội; Nghị định, nghị quyết của Ủy ban thường vụ     Quốc hội     .Khắc phục tranh chấp về thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương, cá nhân vi phạm Hiến pháp, luật, quyết định của Quốc hội; Bằng các nghị định, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tác giả cho rằng cần sửa đổi khoản 2 và khoản 3 của Luật Xuất bản văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện quy định của Quốc hội bãi bỏ. thông tư chung. Trong số các Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tổng công tố viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Công tố viên nhà nước, các Bộ trưởng, Vụ trưởng ngang bộ làm trái Hiến pháp, luật và quyết định của Quốc hội; Ngày thứ ba,   Trong thời gian tới, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu và thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng:    “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế thẩm tra, kiểm tra về tính hiến pháp và tính hợp pháp của Đảng. ”     [7] và     “ thiết lập cơ chế đánh giá vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp ”  [số 8]. Do hoạt động kiểm toán cao nhất của Quốc hội mang tính chất vĩ mô chính trị và không có tính chất quyết định tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền ở Trung ương ban hành – hoạt động này thực chất là chính trị – pháp lý – kỹ thuật vi mô [9]. Vì lý do này, không nên đặt Quốc hội, cơ quan quyết định chính sách vĩ mô vào vị trí của cơ quan tư pháp theo cách tính đến tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật. 

Có thể bạn quan tâm:  Phần mềm đánh văn bản word 2003

[1] Nguyễn Cửu Việt, “  Khái niệm  văn bản quy phạm pháp luật     (tiếp theo) và     hệ thống văn bản quy phạm pháp luật   ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 51 năm 2005. [2] Cao Wu Ming, “     Tính hợp pháp và hợp lý trong các quyết định hành chính nhà nước của Ủy ban nhân dân     ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật № 7, 2010. [3] Năm 2015, Điều 12 của Luật ban hành các nghị định luật được sửa đổi vào năm 2020 và được một số chất ủng hộ. [4] Nguyễn Cửu Việt, “     Các yếu tố tạo nên tính thẩm quyền và tính hệ thống của quyền lực     ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9 năm 2005. [5] Điều 7, Điều 70 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Chủ tịch Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ tịch Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội Tòa án nhân dân tối cao, Trưởng Công tố viên Quốc hội tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán trưởng Nhà nước,     người đứng đầu các cơ quan khác do Quốc hội thành lập     ”     . Như vậy,   có thể cho rằng “cơ quan khác do Quốc hội thành lập” và     “người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập”. chúng là hai khái niệm khác nhau và không thể đồng nhất. [6] Điều 4, 98 của Hiến pháp năm 2013 và Điều 28 của Luật cơ cấu Chính phủ năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều     như     sau   : luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cao nhất. những cái đầu ”.  [7]     Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc   Đảng Cộng sản Việt Nam     lần thứ X , Nxb. Chính sách Quốc gia, 2006, tr.126     [8]     Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện   Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X     , Nxb. Chính sách Quốc gia, 2006, tr.127     [9] Trần Ngọc Đường, “     Một số suy nghĩ về tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội     ,” Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 7 năm 2009.

Có thể bạn quan tâm:  Hướng dẫn lập thuyết minh báo cáo tài chính theo thông tư 133

(Nguồn: Bài báo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp № 12 (436), tháng 6 năm 2021)

Luật xuất bản văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015 / QH13 năm 2015

con số: 80/2015 / QH13 Loại tài liệu: Pháp luật
Nơi xuất bản: Hội nghị người ký: Nguyễn Singh Hùng
Ngày cấp: Ngày 22 tháng 6 năm 2015 Ngày có hiệu lực: Nổi tiếng
Ngày phát hành: Nổi tiếng Số xuất bản: Nổi tiếng
Điều kiện: Nổi tiếng


Video Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật